SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
8
6
6
7
2
1
5
Tin tức sự kiện 27 Tháng Bảy 2011 8:00:00 SA

Biết bao sự hy sinh để có ngày hòa bình hôm nay

 

Cứ mỗi năm gần đến Ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7) tôi lại nhớ đến những chiến sĩ của tôi. Từng gương mặt trẻ trung, hồn nhiên hiện lên rõ nét như ngày nào còn sinh hoạt, chiến đấu chung trong Cụm tình báo quân sự H.63, đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" năm 1971. Điều đặc biệt là kèm theo lá cờ "Đơn vị anh hùng" còn có thêm lá cờ ghi dòng chữ "Đơn vị 10 năm bám trụ Củ Chi".
"Mười năm bám trụ Củ Chi” (1961 - 1971), đúng là một thành tích không nhỏ, đã được Nhà nước ghi nhận trên lá cờ vẻ vang ấy. Hiện nay, lá cờ được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng Cục II Bộ Quốc phòng ở Thủ đô Hà Nội.
Những năm ấy, nhất là từ 1965, khi quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam, chúng dồn sức càn quét các khu căn cứ cách mạng, trong đó có Củ Chi. Vì vậy không còn mấy đơn vị bám trụ được tại chiến trường vô cùng ác liệt này mà phía địch gọi là trọng điểm của khu "Tam giác sắt". Lại có câu "Củ Chi còn thì Sài Gòn mất" được lưu truyền trong các tướng lĩnh quân ngụy. Để đánh bật lực lượng ta khỏi địa bàn xung yếu này, giặc Mỹ không từ một thủ đoạn nào. Chất độc hóa học diệt cỏ, làm rụng lá cây, kết hợp xe ủi đất hạng nặng phá sạch địa hình. Đạn đại bác từ các căn cứ quân đội Mỹ xung quanh ngày đêm bắn đến đây như "giã gạo". Củ Chi được coi là túi bom. Không kể những lần vào Củ Chi thả trực tiếp vào những điểm nghi ngờ có Việt cộng, các máy bay đi oanh tạc trên biên giới Tây Ninh về mà còn bom thì chúng lại trút hết xuống đây. Sư đoàn 25 Bộ binh Mỹ, mệnh danh "Tia chớp nhiệt đới" đóng căn cứ tại Đồng Dù, đặc biệt phụ trách chiến trường Củ Chi. Hằng ngày chúng tung những đội biệt kích có trực thăng và pháo binh yểm trợ đi dò tìm căn cứ của quân ta. Khi phát hiện được nắp địa đạo thì điều một tổ 3 tên Mỹ từ Đồng Dù đến chui xuống địa đạo, được gọi là "đội chuột cống" (Tunnel rat) được đào tạo chuyên môn chiến đấu trong đường hầm. Củ Chi còn chịu những trận càn quét lớn như các trận Crimp, Manhattan năm 1966, trận Xê-đa-phôn đầu năm 1967. Riêng trận Xê-đa-phôn có đến 25.000 quân Mỹ chà đi xát lại hơn 45 ngày hai bên bờ sông Sài Gòn.
Tình hình chiến trường ác liệt như vậy mà cán bộ, chiến sĩ Cụm tình báo quân sự H.63 vẫn kiên quyết bám trụ để nối liên lạc với điệp viên trong Sài Gòn và chuyển tài liệu, tin tức tình báo kịp thời về cấp trên trong suốt cuộc kháng chiến. Điều làm bọn Mỹ căm tức nhất là càn quét như vậy, chà đi xát lại đến không còn một cọng cỏ nhưng đêm nào tín hiệu vô tuyến điện của ta nối liên lạc với trung tâm trên rừng biên giới vẫn dội vào máy thu của chúng, cách đó không xa mà tìm mãi không được nơi đặt máy.
Để hoàn thành nhiệm vụ thì phải chấp nhận hy sinh (tính đến ngày giải phóng, tổng cộng quân số của Cụm tình báo quân sự H.63 là 45 đồng chí, trong đó số hy sinh là 27, bị thương 13). Thế nhưng, mọi người đều xác định quyết tâm, kiên trì chịu đựng cuộc sống vô cùng gian khổ, nguy hiểm nhưng luôn vui vẻ, lạc quan. Chiến trường này không có trạm quân y cố định. Vì vậy, trong Cụm được biên chế một quân y sĩ để tự cứu chữa thương binh, nhưng trình độ chuyên môn có hạn, thuốc men không đủ, đồng chí quân y sĩ không thể giải quyết được những trường hợp khó. Chiến sĩ thường nói đùa với nhau: “thà chết sướng hơn bị thương”, vì bị thương rồi cũng chết. Thật vậy, như trường hợp anh Võ Văn Mai, tự Sang, cán bộ tuyên huấn huyện Củ Chi, chỉ bị thương ở gót chân nhưng không được chăm sóc, điều trị đúng cách, chân bị nhiễm trùng, hoại tử và hy sinh năm 1968.
Vì thế, mỗi chiều khi chiến sĩ của tôi đột nhập vào ấp chiến lược Phú Hòa Đông công tác, tôi cứ đứng ngó mong theo cho tới nửa đêm, khi anh em trở về an toàn, tôi mới yên tâm chui xuống địa đạo soạn chỗ nghỉ. Vậy mà, vào một đêm năm 1967, theo dõi thấy ánh chớp lửa xanh của mìn Claymore và lựu đạn Mỹ từ bên ấp chiến lược, tôi biết có điều chẳng lành. Đúng vậy, có hai chiến sĩ của đơn vị bị thương. Từ ấp chiến lược, anh em phải khiêng thương binh ra bờ sông Sài Gòn, kiếm xuồng vượt sông rồi tiếp tục khiêng qua cánh đồng xã An Tây mới đến căn cứ. Nói căn cứ nhưng chỉ là một cái nắp địa đạo, ban ngày được nghi trang cẩn thận đề phòng lùng sục của lính Mỹ. Phải dở nắp, nhè nhẹ, lần lượt đưa từng đồng chí xuống địa đạo. Trong đường hầm, nước mưa theo rễ tre tầm vông cứ rỉ xuống, rỉ xuống tạo thành một lớp bùn sệt và lạnh. Phải trải tấm ny lông lên lớp bùn nhão nhẹt ấy cho thương binh nằm. Cán bộ, chiến sĩ thương binh cùng chen chúc trong đường hầm ngột ngạt ấy. Bên trên, trời cứ mưa, máy bay trinh sát Mỹ cứ quầng và rọi đèn, đại bác Mỹ cứ dội đến từng đợt, từng đợt…
 
 
Một trong những lối vào địa đạo Củ Chi (TL - TNN st )
 
Mỗi trường hợp hy sinh khắc trong tôi một kỷ niệm khó quên, nhưng tôi nhớ nhất và cảm động nhất là trường hợp của đồng chí Nguyễn Văn Ẩn, quê ở ấp Bến Đình, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi.
Đó là vào năm 1968, sau đợt 1 tổng tấn công vào Sài Gòn và các thành phố trên toàn miền Nam. Năm ấy, em 21 tuổi, cấp bậc trung đội phó, chưa vợ con, nhà nghèo, trình độ văn hóa chỉ lớp 2, nhập ngũ vào Cụm tôi năm 1963.
Đêm ấy, chúng tôi vào ấp chiến lược Phú Hòa Đông công tác thì bị giặc phục kích đánh mìn Claymore (loại mìn định hướng của Mỹ). Sáu Ẩn, Năm Hải - cán bộ đại đội của Cụm H.63, đi đầu đội hình, bị thương nặng. Từ phía sau, chúng tôi tràn lên nổ súng. Giặc bỏ chạy về đồn, anh em dùng võng khiêng hai thương binh ra bờ sông. Đồng chí Năm Hải lớn tuổi hơn và vết thương quá nặng nên trút hơi thở cuối cùng. Chiếc xuồng con đưa một liệt sĩ và một thương binh vội vã qua sông. Theo rạch Mương Dâu, vào sâu trong cánh đồng xã An Tây. Có thể không còn kịp nữa rồi! Người của Ẩn quằn quại, có những dấu hiệu hấp hối. Tôi bảo dừng lại và cùng với một chiến sĩ khiêng Ẩn lên nằm trên một gò chòi.
Dưới ánh trăng mờ cuối tháng, tôi nhìn người chiến sĩ thân yêu của mình lịm dần mà đành bất lực, không cách gì cứu được vì trường hợp này tôi chỉ biết thắt ga-rô, một lúc thì nới ra để tránh hoại tử, rồi thắt lại…
Hình như em muốn nói với tôi điều gì đó, có thể là lời nói sau cùng. Tôi lau mặt em, cúi sát xuống. Em thều thào khó khăn, đứt quãng:
- Anh Tư ơi!... Một lát về gặp má tôi, anh đừng nói tôi chết… Nghe tôi chết má tôi buồn lắm… Nói tôi đi quân y vài bữa rồi… tôi…
Cố gắng lắm, em chỉ nói được bấy nhiêu rồi nghiêng đầu sang một bên, buông bàn tay tôi ra và trút hơi thở cuối cùng. Ôi! Xúc động quá! Trong giây phút sắp chia tay với thủ trưởng, với đồng đội, với cuộc đời, hình ảnh người mẹ hiện lên trong đầu người chiến sĩ trẻ và em cố sức để gửi lời nhắn nhủ dành cho mẹ… chỉ sợ mẹ buồn!                                       
                                                                   Đại tá nguyỄn văn tàu
Anh hùng LLVTND, Thương binh loại A hạng 2/4

Số lượt người xem: 1911    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Không tiêu đề
Tìm kiếm