SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
1
7
1
6
9
6
1
Tin tức sự kiện 28 Tháng Hai 2011 9:20:00 CH

Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác y sư kiệt xuất đất Việt

 

Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (còn gọi là Lê Hữu Huân), là con thứ 7 của Thượng thư bộ Lễ Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng (tức Diệu Hệu). Ông là người tài lược hơn đời, thanh liêm rất mực, thơ ông có câu: "Thiện diệc lãn vi hà huống ác; Quí do bất nguyện khởi ưu bần" (Điều thiện cũng biếng làm, huống chi là điều ác! Cảnh sang còn không muốn, còn lo gì cảnh nghèo). Và vì quê ông ở xã Liêu Xá, Thượng Thống, Đường Hào, Hưng Yên, nên lấy hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (hay Lãn Ông).
Sinh thời, ông là một nhà văn, nhà thơ xuất sắc trên văn đàn Việt Nam thế kỷ XVIII. Thơ văn ông mang tinh thần nhân đạo cao cả của một nhà hiền triết phương Đông vốn xem thường phú quí, ghét vinh hoa "Công danh trước mắt trôi như nước/ Nhân nghĩa trong lòng chẳng đối phương". Ông đã vượt lên trên những danh lợi tầm thường mà người đời thường lắm kẻ đua chen: Bái biệt lầu rồng kinh khuyết lạnh; Gươm đàn vội vã bước chân ra; để về hành đạo, cứu đời với tâm hồn của một người thầy thuốc nghệ sĩ: Ngày ngày xem bệnh vừa xong; Đêm đêm tựa bóng trăng trong gãy đàn. Và đặc biệt, ông chẳng bao giờ mưu tính một điều gì cho riêng mình: Thiện tâm cốt ở cứu người; Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu; Biết vui nghèo cũng hơn giàu; Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn. Ngoài ra, thơ ông còn đầy vẻ cao khiết u trầm, đúng là bậc xử sĩ, cao hiền đáng kính trọng của nhân dân ta. Một tác phẩm văn học khác cũng đã để lại những dấu ấn về tài năng và nhân cách của con người Lãn Ông đó là Thượng kinh ký sự, soạn năm 1782, lúc chúa Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm triệu ông ra Thăng Long…
Tuy nhiên, tính trội trong con người của Lãn Ông chính là sự quyết tâm tu học và hành nghề thầy thuốc để cứu nhân độ thế. Hơn 70 mùa xuân trên cõi trần thế, ông không những quên mình cứu đời, giúp người mà còn dày công nghiên cứu, biên soạn nhiều tài liệu quí về y dược và mở trường đào tạo truyền bá y nghiệp cho thế hệ lương y. Nhiều tài liệu đánh giá rằng: Cống hiến vĩ đại nhất của Lãn Ông đối với sự phát triển của nền y học cả về mặt lý luận và thực tiễn là bộ sách nổi tiếng HẢI THƯỢNG Y TÔN TÂM LĨNH. Đây là sự kế thừa đầy sáng tạo những thành tựu y học của nhiều thế hệ lương y nổi tiếng trong và ngoài nước, gồm 28 tập và 66 quyển.
HẢI THƯỢNG Y TÔN TÂM LĨNH từ lâu đã được giới y học trong và ngoài nước xem là "Bách khoa toàn thư y học thế kỷ XVIII" và cũng là bộ sách y học lớn nhất của nền Đông y Việt Nam. Hàng trăm năm qua, bộ sách được các thế hệ thầy thuốc Việt Nam lấy làm "sách gối đầu giường"; được các nhà khoa học đánh giá là "một kỳ công y học của dân tộc và thế giới". Riêng ông, đã để lại cho đời một tấm gương sống cao đẹp và những lời di huấn bất hủ về y đức, y thuật của người thầy thuốc chân chính mà ngày nay nó vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi và giá trị nhân bản đích thực. Trong quyển mở đầu cho bộ Y TÔN TÂM LĨNH, quyển "Y huấn cách ngôn", Lãn Ông quan niệm rằng: "Thầy thuốc là nghề cao thượng, phải giữ khí tiết cho trong sạch… Đạo làm thuốc là nhân thuật, chuyên bảo vệ sinh mạng của con người, phải lo cái lo của con người, vui cái vui của con người, lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công…". Trước những kẻ "đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi thành mua bán", ông đề ra chín điều cần phải làm của người thầy thuốc, mà suy cho cùng, chín điều đó các thế hệ thầy thuốc thời nay cũng cần nên coi đó là điều răn để sửa mình, để hướng thiện. Điều đầu tiên ông nhắc nhở là: "Người học thuốc, những lúc nhàn rỗi, phải siêng năng tìm hiểu, nghiên cứu các sách thuốc xưa nay, nếu thường xuyên chịu khó học hỏi, phát triển, sáng tạo, nhập tâm được vấn đề, mắt thấy được nghĩa lý thì tất nhiên tay sẽ làm đúng và không phạm phải sai lầm". Điều 2, "Khi được mời đi thăm bệnh, …, chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi tới trước, chỗ tới sau… Khi lòng mình có chỗ bất minh… thì việc cứu chữa sẽ kém phần kết quả". Điều 3, "Khi xem bệnh cho phụ nữ, ni cô, đàn bà góa phải có người nhà bên cạnh mới vào thăm bệnh (…) chớ nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính". Điều 4, "…phải toàn tâm toàn ý nghĩ đến việc giúp đời cứu người. Không nên chơi bời, bê tha, chểnh mãng với công việc gây bất hạnh cho người đời …". Điều 5, "Khi gặp bệnh nguy cấp, nên đem hết sức mình ra cứu chữa. Khi cho thuốc, phải nói cho gia đình bệnh nhân biết và tùy theo khả năng của họ mà bốc thuốc…". Điều 6, "Thuốc men dùng để chữa bệnh thì nên mua thuốc tốt (…), nên chế sẵn nhiều loại thuốc và có thuốc sắc, thuốc tán khi gặp bệnh nhân nguy cấp mới không bó tay và có thuốc dùng ngay". Điều 7, "Khi gặp bạn đồng nghiệp, phải khiêm tốn học tập kinh nghiệm, hòa nhã kính nhường… Phải kính trọng người lớn tuổi hơn mình. Coi người giỏi như người thầy, dìu dắt người thua kém. Giữ được lòng nhân đức, trung hậu nghề thầy thuốc sẽ được vẻ vang, hạnh phúc". Điều 8, "Khi xem bệnh ở những nhà nghèo túng, mồ côi, góa bụa nên ưu ái chăm sóc đặc biệt… Đối với những người con hiếu thảo, vợ hiền, nghèo mà có bệnh, ngoài việc cho thuốc còn tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của mình mà chu cấp cho họ…". Điều 9, "Khi cứu chữa cho ai khỏi bệnh rồi chớ có mưu cầu lợi lộc. Nhận quà biếu xén của người khác thường sinh ra nể nang… Nghề thầy thuốc là nghề cao quí, phải giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch". Lời nói của ông luôn đi đôi với việc làm. Trong sách Ngữ văn lớp 6 có nói đến câu chuyện "Thầy thuốc như mẹ hiền". Lãn Ông là một người như thế. Ông đã từng khám, cho thuốc, giúp đỡ và cứu sống một chú bé con nhà nghèo bị bệnh đậu mùa vì nghèo không tiền mời thầy mà chờ chết…
Quả thực, trọn cả cuộc đời mình, Lãn Ông đã làm việc hết mình vì niềm vui và hạnh phúc của người khác. Nhớ đến ông là ta mãi nhớ đến "ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho nền y đức dân tộc…!".
nguyỄn viẾt chính
 

Số lượt người xem: 2462    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Không tiêu đề
Tìm kiếm